HỆ THỐNG ĐẢO VEN BỜ TRONG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ AN NINH QUỐC PHÒNG Ở NƯỚC TA



 

1. Giới thiệu sơ lược về hệ thống đảo ven bờ Việt Nam

          * Ngoài hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, gồm 2773 hòn đảo lớn nhỏ với diện tích 1720km2. Một số đảo lớn như:

          - Cái Bầu: 200km2, trên 21 nghìn dân

            - Phú Quốc: 320km2, 50 nghìn dân

            - Côn Đảo: 56,7km2, 1640 dân

            - Phú Quý: 32 km2, gần 18 nghìn dân

            - Cát Bà: 149 km2, trên 15 nghìn dân

            - Đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), một hòn đảo nhỏ (khoảng 3km2) nhưng có trên 16 nghìn dân sinh sống.

            * Phân bố: Tập trung nhiều nhất ở Quảng Ninh - Hải Phòng với 83,7% số lượng (48,9% diện tích). Kiên Hải - Minh Giang, vịnh Thái Lan: 5,7% số lượng đảo và 35,5% diện tích.

2. Tiềm năng của hệ thống đảo ven bờ.

2.1. Vị thế của hệ thống hải đảo và đảo ven bờ

            - Là cơ sở pháp lý về mặt lãnh thổ để xác định chủ quyền vùng biển và thềm lục địa, làm cơ sở để giải quyết tranh chấp ở các vùng chống lấn.

            - Các đảo đã trở thành những “tiền đồn”, những “điểm chốt” cố định vững chắc, khống chế hầu hết vùng biển quan trọng ven bờ, tạo thành bức tường kiểm soát các tuyến giao thông quan trọng, là những nơi triển khai, bố trí lực lượng quốc phòng vô cùng thuận lợi cho bảo vệ an ninh Tổ quốc, bảo vệ công việc công cuộc xây dựng đời sống ấm no.

            - Do đặc điểm phân bố của mình, HTĐVB còn có vai trò to lớn trong khai thác tài nguyên biển, bảo vệ môi trường biển, bảo vệ và phát triển các hệ sinh thái đặc trưng vùng biển Việt Nam.

- HTĐVB đã tiếp nối và phát huy thế mạnh của vùng duyên hải để tiến ra biển khơi, góp phần thúc đẩy và tác động lẫn nhau trong phát triển kinh tế xã hội vùng ven biển và vùng biển, là cửa ngõ giao lưu văn hóa, kinh tế với nước ngoài

2.2. Tài nguyên thiên nhiên hệ thống đảo ven bờ Việt Nam

2.2.1.Tài nguyên khoáng sản: Có 5 nhóm khoáng sản chính với 30 loại hình khác nhau.

- Nhóm khoáng sản cháy: Dầu mỏ, khí đốt, than đá,...

- Nhóm khoáng sản kim loại: Vàng, bạc, sắt, mangan,...

- Nhóm sa khoáng không kim loại: cao lanh, photphorit, cát thủy tinh,...

- Nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng: tương đối phương phú về chủng loại và giàu về trữ lượng.

- Nhóm đá quý và đá nữa quý: thạch anh tinh thể, tectit,...

2.2.2. Tài nguyên đất:

            Trên HTĐVB tồn tại 11 loại đất chính và được chia thành 3 nhóm: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất chuyên dùng. Hình thức sử dụng đất trên đảo phổ biến vẫn là canh tác nông nghiệp. Nhiều đảo không có dân sinh sống song vẫn được sử dụng để trồng lúa nương, ngô hoặc trồng rau và một loại cây lương thực khác.

2.2.3. Tài nguyên sinh vật

            - Thực vật trên đảo: Hệ thực vật trên các đảo có sự phân hóa so với đất liền và phân hóa theo vĩ độ, hệ thực vật trên đảo thuộc 3 vùng  biển Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Trong đó, ngành thực vật hạt kín đóng vai trò quyết định tạo nên thành phần loài trong hệ sinh thái đảo Mỗi vùng biển  đều có đặc thù riêng, giá trị loài cũng như các loài cây quý hiếm và giá trị sử dụng ở các vùng biển cũng khác nhau [ …..]

            - Động vật trên đảo: Do sự đa dạng của điều kiện tự nhiên, nên khu hệ động vật trên HTĐVB Việt Nam phong phú, đa dạng và mang tính đặc thù của thiên nhiên ven bờ biển nhiệt đới (hiện nay thống kê được 64 loài thú thuộc 24 họ, 8 bộ; 194 loài chim thuộc 50 họ, 20 bộ; 72 loài bò sát thuộc 17 họ, 3 bộ và 15 loài ếch nhái thuộc 4 họ, 1 bộ)

            Tính đa dạng của động vật phụ thuộc vào đặc điểm lớp phủ thực vật, diện tích và khoảng cách so với đất liền.

            Vùng lợi sinh vật vùng triều của hệ thống đảo vùng vịnh Bắc Bộ phong phú đa dạng hơn vùng phía Nam, nhưng nguồn lợi hải sản cơ bản của vùng nước quanh các đảo thì vùng phía Nam lại phong phú hơn.

            Các ngư trường khai thác cá và tôm, mực quan trọng là thuộc vùng biển các đảo Cô tô, Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Hòn Mê, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc, Nam Du,...trong đó có một số đảo có vị trí đặc biệt cần xây dựng các cơ sở hậu cần của nghề cá.

 

2.2.4. Tài nguyên du lịch



            Tiềm năng du lịch của hệ thống đảo ven bờ rất to lớn, do ưu thế đặc biệt về cảnh quan đa dạng; về khí hậu điều hòa, trong lành; về thế giới sinh vật nhiệt đới phong phú với nhiều giống loài đặc thù,… Theo tiềm năng du lịch, hệ thống đảo ven bờ được nhóm lại tương ứng với các vùng du lịch biển của cả nước, là vùng du lịch biển Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Bộ

            * Vùng du lịch Bắc Bộ: Có tiềm năng du lịch lớn.

            - Đảo Vĩnh Thực: có nhiều bãi cát dài, phẳng và sạch, gần bờ và gần với Trà Cổ, gần với thị xã Móng Cái. Vĩnh Thực kết hợp với tuyến Móng Cái - Trà Cổ sẽ là hướng phát triển du lịch nhiều tiềm năng trong tương lai.

            - Các nhóm đảo thuộc vịnh Bái Tử Long và lân cận: Khu vực này có khoảng hơn 300 đảo lớn nhỏ, quá trình hoạt động caxtơ đã tạo nên những hình thù đa dạng và huyền bí,....dưới chân các đảo còn có nhiều bãi cát như Sơn Hào, Minh Châu, Ngọc Vừng thích hợp cho tắm biển và lướt ván. Trên đảo Quán Lạn có đền thờ Trần Khánh Dư, khu mộ cỏ thôn Đá Bạc (đảo Minh Châu) từ thế kỷ II. Vân Đồn là thương cảng sầm uất đầu tiên của nước ta.

            - Các nhóm đảo thuộc Vịnh Hạ Long và lân cận: Vình vịnh kín rộng 1.500 km2, có nhiều đảo quần tụ với nhau một cách tự nhiên: hòn Quả Chuối, hòn Gà Chọi, hòn Ấm Tích, hòn Con Voi, hòn Con Cóc,.. Vùng có nhiều hang động đẹp. Vùng Hạ Long - Bãi Cháy là một trung tâm du lịch biển lớn của nước ta.

            - Quần đảo Cát Bà: gồm 200 đảo: có nhiều bãi cát và khu rừng nguyên sinh độc đáo (rừng nhiệt đới thường xnah mưa mùa ở đai thấp)

            * Vùng du lịch Bắc Trung Bộ: Cù Lao Chàm.

            * Vùng du lịch biển Nam Trung Bộ và Nam Bộ:

            - Các đảo thuộc biển Phú Yên - Khánh Hòa: Từ mũi Nạy đến vịnh Cam Ranh có hơn 20 đảo lớn nhỏ, có khí hậu lí tưởng để phát triển du lịch. Nhóm đảo thuộc vịnh Văn Phong có nhiều bãi cát trắng. Ngoài ra, trên vùng dảo còn có nhiều tổ chim yến trên các hốc đá và nhiều đặc sản hải sản khác.

            - Nhóm đảo Côn Đảo: có hệ động thực vật phong phú, quanh đảo có nhiều rạng san hô và hải sản. Côn Đảo còn gắn liền với lịch sử đấu tranh bất khuất của dân tộc đã được Nhà nước xếp hạng.

            - Nhóm đảo Phú Quốc: đảo lớn nhất nước ta, đảo có nhiều tiềm năng với nhiều cây cổ thụ, thung lũng hoa lan. Phú Quốc có truyền thống đấu tranh dân tộc.

            Tóm lại, HTĐVB có tiềm năng du lịch khá phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, để khai thác có hiệu quả cần đi đôi với việc phát triển giao thông.

Tài nguyên du lịch là một tiềm năng độc đáo, đa dạng, hết sức có giá trị và hứa hẹn một hiệu quả kinh tế to lớn. Do đó cần có  những nghiên cứu chi tiết để đầu tư một cách phù hợp trong quy hoạch phát triển của ngành du lịch cũng như trong tổng thể các hoạt động kinh tế của từng địa phương.

            Mặt khác, như chúng ta đã thấy, vai trò quan trọng của hệ thống đảo là ở giá trị vị thế của chúng, thể hiện trong công cuộc bảo vệ an ninh, xác định chủ quyền vùng biển, trong khai thác tài nguyên và tiến hành các dịch vụ trên biển. Vì vậy việc định cư trên đảo không chỉ nhằm mục tiêu khai thác tài nguyên vốn rất hạn chất ở trên đảo không chỉ nhằm mục tiêu tài nguyên vốn hạn chế ở trên đảo mà chủ yếu và trước hết là để phát triển kinh tế biển và phục vụ quốc phòng. Do đó, tài nguyên đất, sinh vật, nước, khoáng sản trên đảo cần được sử dụng ưu tiên cho các mục tiêu cho các mục đích phát triển các ngành khai thác và dịch vụ hải sản, dầu khí, hàng hải, du lịch

 

 

Bài tin liên quan
Tin tức - Sự kiện
Tin tức
Tin đọc nhiều